Những tư tưởng chỉ đạo và những đổi mới cốt lõi của Nghị quyết số 10-NQ/TW
Thứ nhất, chuyển từ tư duy thu hút đầu tư nước ngoài sang phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị quyết tiếp cận toàn diện hơn, bao quát cả đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, thị trường vốn và các thiết chế tài chính quốc tế; coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế, phát triển hài hòa với khu vực kinh tế trong nước để phục vụ mục tiêu phát triển quốc gia.
Thứ hai, chuyển từ coi trọng quy mô vốn sang coi trọng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng. Trọng tâm không còn là thu hút nhiều dự án hơn, mà là lựa chọn các dự án có công nghệ tiên tiến, đổi mới sáng tạo, quản trị hiện đại, có khả năng lan tỏa và đóng góp thiết thực vào nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Thứ ba, chuyển từ ưu đãi theo đầu vào sang ưu đãi theo kết quả. Chính sách ưu đãi được đổi mới theo hướng gắn với việc thực hiện các cam kết về chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực, liên kết với doanh nghiệp trong nước, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.
Thứ tư, chuyển từ phát triển FDI đơn lẻ sang phát triển đồng bộ hệ sinh thái các dòng vốn quốc tế. Đây là điểm mới nổi bật của Nghị quyết khi đặt đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế và các không gian phát triển mới (như khu thương mại tự do, các đặc khu kinh tế,…) trong một chỉnh thể thống nhất nhằm nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực.
Thứ năm, chuyển từ quản lý đầu tư sang kiến tạo môi trường đầu tư và phát triển. Nhà nước tập trung hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, phát triển hạ tầng, nguồn nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo để tạo môi trường thuận lợi cho các nguồn lực trong nước và quốc tế cùng phát triển.
Thứ sáu, chuyển từ cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các địa phương sang điều phối phát triển ở tầm quốc gia. Nghị quyết yêu cầu tăng cường liên kết vùng, liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài với khu vực kinh tế trong nước, phát huy vai trò của các cực tăng trưởng và các trung tâm tài chính, đổi mới sáng tạo để nâng cao hiệu quả phát triển chung của nền kinh tế.

Kết quả công tác thu hút đầu tư, đối ngoại kinh tế 6 tháng đầu năm 2026
Theo Báo cáo kết quả phát triển kinh tế – xã hội 6 tháng đầu năm 2026 của thành phố Cần Thơ, công tác hỗ trợ doanh nghiệp, thu hút đầu tư và phát triển khu vực kinh tế tư nhân tiếp tục được tăng cường. Hoạt động xúc tiến đầu tư được triển khai chủ động, đa dạng và hiệu quả. UBND thành phố đã ban hành Danh mục 85 dự án mời gọi đầu tư đến năm 2030 trên các lĩnh vực hạ tầng công nghiệp, năng lượng, đô thị, thương mại dịch vụ, giáo dục và giao thông nhằm thu hút mạnh mẽ nguồn lực xã hội cho phát triển. Trong 6 tháng đầu năm 2026, thành phố thu hút mới 06 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký 3.491,6 tỷ đồng; cấp mới 01 dự án FDI với tổng vốn đăng ký trên 201 nghìn USD. Lũy kế đến nay, toàn thành phố có 302 dự án đầu tư ngoài ngân sách với tổng vốn đăng ký khoảng 264.160 tỷ đồng và 123 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 7,1 tỷ USD.
Công tác phát triển hạ tầng khu công nghiệp và thu hút đầu tư tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần mở rộng năng lực sản xuất công nghiệp của thành phố. Trong 6 tháng đầu năm 2026, các khu công nghiệp trên địa bàn đã thu hút mới 04 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký khoảng 7.313 tỷ đồng; cấp 17 giấy chứng nhận đầu tư điều chỉnh cho 17 dự án12. Lũy kế đến nay, các khu công nghiệp thu hút 349 dự án còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư đăng ký 142.133 tỷ đồng vốn trong nước và 4.661 triệu USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Vốn thực hiện: đạt 92.478 tỷ đồng, chiếm 65,06% vốn đầu tư trong nước; 1.198 triệu USD, chiếm 25,7% vốn đầu tư vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, thành phố đã tiếp và làm việc với 421 đoàn khách quốc tế, với 2.854 lượt khách nước ngoài, tăng 118 đoàn và 1.075 lượt khách so với cùng kỳ năm 2025; đồng thời có 34 hội nghị, hội thảo quốc tế được thống nhất tổ chức trên địa bàn thành phố. Công tác hợp tác quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh. Thành phố đã ký kết 03 biên bản ghi nhớ hợp tác với các địa phương, đối tác nước ngoài, gồm: Bản ghi nhớ hợp tác giữa thành phố Cần Thơ và thành phố Busan (Hàn Quốc); Thỏa thuận hợp tác về phái cử và tiếp nhận lao động thời vụ giữa Sở Nội vụ thành phố và huyện Cheorwon, tỉnh Gangwon (Hàn Quốc); thỏa thuận hợp tác giữa Sở Xây dựng thành phố với Tập đoàn Xây dựng Thái Bình Dương. Đồng thời, tham mưu tổ chức Đối thoại Sáng kiến Hành lang Đô thị sông Mekong lần thứ 4; hỗ trợ, phối hợp tiếp nhận các nguồn hỗ trợ quốc tế phục vụ an sinh xã hội trên địa bàn.

TP. Cần Thơ và TP. Busan ký bản ghi nhớ hợp tác
Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư
Xuất phát từ thực tiễn địa phương và tinh thần cốt lõi của Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, Trung tâm Xúc tiến Đầu tư – Thương mại và Du lịch thành phố Cần Thơ xác định quan điểm: Xây dựng chương trình xúc tiến đầu tư của thành phố có trọng tâm, trọng điểm theo đối tác, lĩnh vực, ngành nghề. Hoạt động xúc tiến đầu tư chuyển từ tiếp cận theo chiều rộng sang chiều sâu, lấy chất lượng, hiệu quả, hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng của dự án làm tiêu chuẩn hàng đầu. Ưu tiên các dự án có sự liên kết với doanh nghiệp trong nước, tham gia sâu vào chuỗi giá trị và phát triển bền vững. Đẩy mạnh tổ chức hoạt động xúc tiến theo phương thức kết hợp các hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch và đối ngoại kinh tế trong và ngoài nước; Triển khai công tác xúc tiến đầu tư tại chỗ, chủ động đổi mới tư duy từ “giải quyết thủ tục” sang “đồng hành kiến tạo dự án”.

Lãnh đạo thành phố Cần Thơ tiếp và làm việc với Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam – Hàn Quốc (VKBIA)
Định hướng các hoạt động xúc tiến đầu tư thời gian tới
– Tìm kiếm đối tác để xúc tiến đầu tư có trọng tâm, trọng điểm phù hợp với tiềm năng, thế mạnh của thành phố Cần Thơ cần mời gọi đầu tư. Đẩy mạnh xúc tiến đầu tư với các thị trường chiến lược (Nhật, Hàn, EU) và mở rộng sang các thị trường tiềm năng (Ấn Độ, Trung Đông); tăng cường phối hợp các tổ chức xúc tiến đầu tư quốc tế như: JETRO, KOTRA, Eurocham, Amcham.
– Các định hướng phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, là lựa chọn mang tính chiến lược, thúc đẩy tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia trong dài hạn.
– Tạo sự kết nối, lan tỏa giữa khu vực FDI và khu vực kinh tế trong nước nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân thành động lực phát triển quan trọng nhất, tham gia sâu và hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu; thúc đẩy sự đóng góp của FDI trong phát triển kinh tế – xã hội, hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026 – 2030.
– Gắn với quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo phù hợp với chủ trương điều chỉnh địa giới hành chính và tổ chức chính quyền 2 cấp.
– Chủ động hội nhập, liên kết hợp tác với các doanh nghiệp trong nước và quốc tế; mở rộng quan hệ đối ngoại trong việc vận động các nguồn vốn, nguồn viện trợ các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ, nguồn lực của các tổ chức, cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài; tổ chức các hoạt động hướng tới việc kết nối, thu hút, vận động kiều bào tham gia đầu tư, đóng góp, xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
– Tiếp tục triển khai thực hiện các Thỏa thuận quốc tế đã ký với các tỉnh, thành phố nước ngoài. Đẩy mạnh triển khai các giải pháp kết nối cung cầu, gắn kết giữa sản xuất với phân phối và tiêu dùng. Tiếp tục thực hiện các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; thực hiện hiệu quả việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc hỗ trợ doanh nghiệp, nhà đầu tư, dự án đầu tư vào thành phố.
Kim Ngọc
